Từ manh mún tới tích hợp liên ngành
Trước đây, quy hoạch không gian phát triển đô thị – công nghiệp – hạ tầng vùng Đông Nam Bộ còn phân mảnh: mỗi tỉnh một bản đồ, thiếu kết nối. Nơi dư thừa đất công nghiệp lại thiếu cảng biển; nơi có cảng thì thiếu hậu cần logistics và đô thị vệ tinh. Điều này dẫn đến đầu tư manh mún, cạnh tranh không lành mạnh.
Quyết định 370/QĐ-TTg (28/3/2024) phê duyệt Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn 2050 đã xác định rõ nguyên tắc: quy hoạch vùng phải tích hợp liên ngành, xuyên địa giới hành chính, đồng bộ với quy hoạch giao thông, năng lượng, logistics, đô thị, đào tạo nhân lực và môi trường.
Quy hoạch mới phân chia Đông Nam Bộ thành 3 tiểu vùng:
Tiểu vùng Trung tâm (TP.HCM, Nam Bình Dương (cũ), Tây Nam Đồng Nai) – trung tâm tài chính quốc tế, công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao.
Tiểu vùng Ven biển (Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Giờ) – kinh tế biển, dầu khí, logistics, du lịch.
Tiểu vùng Phía Bắc (Tây Ninh, Bình Phước, Bắc Đồng Nai, Bắc Bình Dương) – kinh tế cửa khẩu, logistics, chế biến nông sản.
Hai vùng động lực then chốt:
TP.HCM – Bình Dương (cũ)– Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu(cũ): công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ tài chính, logistics quốc tế, kinh tế biển.
Tây Ninh – Bình Phước (cũ)– cửa khẩu quốc tế: thương mại biên giới, công nghiệp chế biến, trung chuyển hàng hóa.
Hệ thống hành lang kinh tế – vành đai gồm: Bắc – Nam (QL1, cao tốc Bắc – Nam phía Đông), Tây Ninh – TP.HCM – Bà Rịa – Vũng Tàu (cao tốc Mộc Bài – TP.HCM, Biên Hòa – Vũng Tàu), QL13, vành đai 3 – 4 TP.HCM, hành lang ven sông Sài Gòn – Đồng Nai.
Giao thông – hạ tầng: Khung kết nối toàn vùng
Quy hoạch 370 xác định hạ tầng giao thông là trục xương sống của liên kết vùng:
Đường bộ: Hoàn thành vành đai 3 – 4, cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, Biên Hòa – Vũng Tàu, TP.HCM – Chơn Thành – Hoa Lư; mở mới kết nối với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, ĐBSCL.

Liên kết vùng giải bài toán tắc nghẽn giao thông (ảnh minh hoạ, MN)
Đường sắt: Xây dựng tuyến TP.HCM – Cần Thơ, Biên Hòa – Vũng Tàu, Thủ Thiêm – Long Thành; nâng cấp đường sắt Bắc – Nam đoạn qua vùng.
Hàng không: Hoàn thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành, nâng cấp Tân Sơn Nhất, nghiên cứu Cảng hàng không Gò Găng (Bà Rịa – Vũng Tàu).
Hàng hải: Phát triển Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải thành trung tâm trung chuyển quốc tế; cảng Cần Giờ; nâng cấp cảng Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương.
Công nghiệp – dịch vụ: Quy mô lớn, công nghệ cao
Đến năm 2030, vùng có 125–130 KCN (62.060 ha, chiếm ~29,4% cả nước, tăng 16.410 ha so 2020).
Mở rộng Khu công nghệ cao TP.HCM thêm 190–200 ha; hình thành khu công nghệ cao Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước. Phát triển khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, Hoa Lư, Xa Mát; các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai.
Cơ chế thực thi: Quy hoạch vùng phải có hiệu lực ràng buộc
Một điểm đột phá của Quy hoạch 370 là yêu cầu các tỉnh điều chỉnh quy hoạch cấp tỉnh phù hợp với quy hoạch vùng đã được Thủ tướng phê duyệt. Khi được luật hóa và giám sát chặt chẽ, điều này sẽ tránh tình trạng “bản đồ đẹp nhưng vô hiệu”, đảm bảo mọi dự án, từ cảng biển đến khu công nghiệp, đều nằm trong cấu trúc phát triển chung.
Quy hoạch tổng thể vùng Đông Nam Bộ theo Quyết định 370 không chỉ là tấm bản đồ định hướng 30 năm, mà còn là “cam kết chiến lược” cho sự phát triển bền vững. Khi tư duy phát triển được định hình theo mô hình trục – vành – cụm, kết hợp hạ tầng đồng bộ và cơ chế điều phối mạnh, Đông Nam Bộ sẽ thoát khỏi chiếc áo chật hành chính, trở thành vùng kinh tế động lực hàng đầu châu Á vào giữa thế kỷ XXI.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày