Việt Nam đặt mục tiêu đạt 65–67 tỷ USD xuất khẩu nông – lâm – thủy sản trong năm 2025, một cột mốc chỉ có thể thành hiện thực nếu các địa phương giữ được tốc độ tăng trưởng thực chất, không dựa vào mở rộng diện tích mà vào giá trị gia tăng. Trong bản đồ nông nghiệp quốc gia ấy, Đồng Nai nổi lên như một ví dụ giàu chất liệu: sau sáp nhập, quy mô vùng nguyên liệu mở rộng vượt bậc, công nghiệp chế biến sâu bước vào nhóm dẫn đầu, và hệ thống logistics nông sản đang định hình theo hướng chuyên nghiệp hơn.
Điều đáng chú ý là tỉnh không chọn cách “dốc vốn vào sản lượng” mà đi ngược dòng: tái thiết vùng nguyên liệu, nâng tỷ trọng chế biến, cải thiện logistics, rút ngắn toàn bộ hành trình từ vườn tới thị trường. Câu hỏi đặt ra là Đồng Nai đang gỡ nút thắt này bằng cách nào.
Vùng nguyên liệu mở rộng – nền tảng cho chuỗi giá trị mới
Vùng nguyên liệu là nền tảng đầu tiên và cũng là bước đi quyết định để tạo ra sự khác biệt. Với cao su, Đồng Nai hiện sở hữu hơn 250.000ha – kế thừa trực tiếp từ Bình Phước, địa phương từng đứng đầu cả nước về cây cao su. Sản lượng vùng đạt khoảng 400.000 tấn mỗi năm, chiếm gần một phần tư quy mô cao su Việt Nam. Riêng Tổng công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO) quản lý hơn 31.000ha, cung ứng ổn định cho thị trường Trung Quốc, EU, Mỹ và một số quốc gia châu Á.
Cà phê tuy không quá lớn về diện tích nhưng lại có chiều sâu về giá trị. Toàn tỉnh duy trì khoảng 6.000ha với sản lượng 15.000 tấn mỗi năm. Khi cộng với vành đai robusta giáp Bình Phước, Đồng Nai trở thành bệ phóng của ba doanh nghiệp chế biến lớn: Vinacafé Biên Hòa, Nestlé Đồng Nai và Tín Nghĩa, những đơn vị đang nắm tới hai phần ba công suất cà phê hòa tan quốc gia, khoảng 75.000 tấn/năm.

Một vùng trồng sầu riêng ở Cẩm Mỹ, Đồng Nai. Ảnh Minh Nghĩa
Cùng với cao su và cà phê, điều là ngành có bước chuyển mạnh nhất sau sáp nhập. Vùng điều hơn 180.000ha, vốn là “thủ phủ điều Việt Nam”, tăng thêm chuỗi giá trị khi nhà máy điều Đồng Tâm (vốn đầu tư 6,5 triệu USD, công suất 4.000 tấn/năm) đi vào vận hành theo mô hình xanh và minh bạch. Điều này giúp Đồng Nai không chỉ nâng năng lực xuất khẩu, mà còn kéo dài tuổi thọ nông sản bằng hệ thống sơ chế, bảo quản hiện đại.
Một vùng nguyên liệu chuẩn không thể đứng ngoài hệ thống mã số vùng trồng. Trước sáp nhập, Đồng Nai đã có 203 mã số vùng trồng xuất khẩu với quy mô gần 29.000ha được các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Australia, Trung Quốc chấp nhận. Sau khi tiếp nhận thêm 65 mã số (2.412ha) từ Bình Phước, tổng số mã vùng của “Đồng Nai mới” đạt khoảng 268 đơn vị, bao phủ hơn 31.000ha. Riêng sầu riêng có 41 mã số, khoảng 2.000ha, một thông số quan trọng trong bối cảnh thị trường Trung Quốc siết chặt truy xuất nguồn gốc.
Thực tế cũng cho thấy thách thức không nhỏ: 31.000ha vùng trồng đạt chuẩn xuất khẩu mới chỉ chiếm 7–10% diện tích cây công nghiệp và cây ăn trái toàn tỉnh. Khoảng trống này khiến việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu trở thành nhiệm vụ trọng tâm ngay từ năm 2025–2026, bởi khi vùng nguyên liệu chưa đạt chuẩn, câu chuyện chế biến và logistics không thể vận hành trọn vẹn.
Chế biến sâu: động cơ nâng giá trị nông sản Đồng Nai
Điểm xoay của chuỗi giá trị nằm ở công nghiệp chế biến. Ở Đồng Nai, chế biến không còn bị xem là “khâu sau thu hoạch” mà là động cơ chính tạo giá trị thặng dư. Trong ngành cà phê, tổ hợp Vinacafé – Nestlé – Tín Nghĩa đưa tỉnh trở thành trung tâm sản xuất cà phê hòa tan của Việt Nam, góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu. Với điều, sự xuất hiện của các nhà máy chế biến sâu giúp tỉnh rời bỏ mô hình xuất thô, chuyển sang chuỗi giá trị cao hơn, phục vụ thị trường Mỹ, EU và Trung Đông.
Hạt tiêu và trái cây cũng đang hình thành các cụm chế biến – đóng gói – bảo quản gắn với mã số vùng trồng, cho phép sản phẩm kéo dài thời gian lưu kho, tăng chất lượng khi vào chuỗi xuất khẩu. Khi chế biến mạnh, vùng nguyên liệu tự khắc mở rộng; khi chế biến sâu, nhu cầu logistics buộc phải nâng cấp. Đó là logic phát triển mà Đồng Nai đang theo đuổi.

Việc tăng tốc các dự án hạ tầng sẽ hỗ trợ trất nhiều cho khâu logistics nông sản Đồng Nai. Ảnh Minh Nghĩa
Logistics nông sản: điểm nghẽn đang được tháo bằng mô hình mới
Logistics là “nút thắt mềm” nhưng lại quyết định tuổi thọ của nông sản. Đồng Nai đang chọn cách tiếp cận thực dụng: không đầu tư dàn trải mà tập trung hình thành các mô hình hiệu quả ngay gần vùng nguyên liệu.
Chợ đầu mối Dầu Giây đang mở rộng giai đoạn 2, giữ vai trò trung tâm phân phối nông sản khu vực với chức năng sơ chế, phân loại, gom hàng. Ở Định Quán và Cẩm Mỹ, các cụm chế biến sâu được quy hoạch gần vùng trồng điều, cà phê và cây ăn quả để rút ngắn quãng đường vận chuyển nguyên liệu. Hệ thống kho lạnh tư nhân như Đồng Nai Cold, Tiến Thịnh, Thịnh Vượng được bố trí dọc trục quốc lộ, giải quyết vấn đề tồn kho và bảo quản sau thu hoạch.
Khi logistics được “chắp cánh”, chuỗi sản xuất từ vùng trồng đến nhà máy, kho bảo quản và cảng biển trở nên liền mạch. Chi phí vận chuyển giảm, tỷ lệ thất thoát giảm, còn giá trị gia tăng tăng lên đáng kể. Đây cũng là điều kiện để Đồng Nai hòa vào đà tăng xuất khẩu quốc gia: 58,13 tỷ USD trong 10 tháng năm 2025, tăng gần 13% so với cùng kỳ.
Câu chuyện của Đồng Nai cho thấy nông nghiệp hiện đại không bắt đầu từ sản lượng, mà từ chất lượng vùng nguyên liệu, tỷ lệ chế biến sâu và logistics thông suốt. Ba yếu tố này liên kết với nhau như một chỉnh thể. Khi vùng nguyên liệu chuẩn hóa hơn, chế biến sâu sẽ có đầu vào ổn định. Khi chế biến mạnh, logistics buộc phải nâng cấp để giữ nhịp xuất khẩu. Và khi logistics tốt, mọi nỗ lực chuẩn hóa trước đó mới phát huy được giá trị thực tế.
Nếu giữ được nhịp chuyển động như hiện nay, Đồng Nai có thể trở thành hình mẫu của Đông Nam Bộ trong hành trình đóng góp vào mục tiêu 67 tỷ USD xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày