Tuy nhiên, do đặc thù địa hình, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hạ tầng hạn chế và xuất phát điểm thấp, vùng miền núi và dân tộc thiểu số vẫn là “vùng trũng” trong phát triển kinh tế – xã hội.
Về tiêu chí vùng miền núi, dân tộc thiểu số cho giai đoạn phát triển mới bước vào kỷ nguyên mới, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr cho biết: Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình, chính sách lớn như Chương trình 135, Nghị quyết 30a, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030 (CTMTQG 1719). Các chương trình này đã góp phần quan trọng trong giảm nghèo, cải thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng đời sống và thúc đẩy bình đẳng giữa các vùng miền.
Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới – khi Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, vấn đề đặt ra là cần cụ thể hóa tiêu chí vùng miền núi, dân tộc thiểu số, nhằm xác định rõ đối tượng, phạm vi thụ hưởng chính sách, cũng như bảo đảm tính công bằng, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.
Trong thời gian dài, khái niệm “vùng miền núi” hay “vùng dân tộc thiểu số” chủ yếu dựa trên tiêu chí địa lý, hành chính hoặc tỷ lệ dân tộc thiểu số trên tổng dân số địa phương. Tuy nhiên, các tiêu chí này ngày càng bộc lộ những bất cập.
Một số xã, thôn vùng núi đã phát triển, đạt chuẩn nông thôn mới, cơ sở hạ tầng và thu nhập người dân tăng đáng kể, nhưng vẫn nằm trong danh mục vùng khó khăn. Ngược lại, có những khu vực cận kề miền núi, hoặc vùng đồng bằng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, lại chưa được hưởng chính sách hỗ trợ tương xứng.
Việc cụ thể hóa tiêu chí vùng miền núi, dân tộc thiểu số không chỉ giúp phân định chính xác địa bàn và đối tượng chính sách, mà còn tạo cơ sở khoa học, thống nhất cho công tác quy hoạch, đầu tư, phân bổ ngân sách và đánh giá hiệu quả chương trình.
Theo Ủy ban Dân tộc, việc xây dựng tiêu chí mới cho giai đoạn 2026–2030 cần dựa trên cách tiếp cận đa chiều, tổng hợp giữa yếu tố tự nhiên – kinh tế – xã hội – dân tộc học, chứ không chỉ đơn thuần là địa lý.
Cụ thể, tiêu chí vùng miền núi có thể bao gồm: Độ cao địa hình, điều kiện giao thông, khí hậu, khoảng cách đến trung tâm kinh tế – hành chính; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, mức độ phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội; tỷ lệ dân tộc thiểu số, bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, đặc điểm sản xuất sinh kế; mức độ tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai và khả năng thích ứng sinh kế bền vững.
Đồng thời, cần phân loại vùng theo 3 cấp độ phát triển: Vùng đặc biệt khó khăn, tập trung đầu tư hạ tầng, sinh kế và an sinh xã hội cơ bản; vùng đang chuyển tiếp, ưu tiên phát triển sản xuất hàng hóa, tạo việc làm, đào tạo nghề; vùng phát triển, tập trung vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa, và phát triển du lịch, kinh tế xanh.
Cách tiếp cận này sẽ giúp chính sách trở nên linh hoạt, “đúng người, đúng chỗ, đúng thời điểm”, tránh dàn trải nguồn lực và khuyến khích các địa phương phấn đấu tự vươn lên.
Một trong những điểm mới được các chuyên gia nhấn mạnh là xây dựng tiêu chí vùng miền núi gắn với quy hoạch và liên kết vùng. Vùng trung du – miền núi Bắc Bộ hay các vùng núi phía Tây Bắc miền Trung đều có đặc điểm riêng, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ về sinh thái, văn hóa và kinh tế.
Việc cụ thể hóa tiêu chí vùng cần song hành với xây dựng cơ chế liên kết phát triển vùng, tạo điều kiện cho các địa phương chia sẻ hạ tầng, nguồn nhân lực và chuỗi giá trị sản phẩm đặc trưng.
Ví dụ, tỉnh Lâm Đồng có thể được định hướng thành vùng kinh tế sinh thái – du lịch – nông nghiệp công nghệ cao; trong khi tỉnh Lào Cai phát triển theo hướng du lịch cộng đồng, kinh tế rừng, và bảo tồn văn hóa dân tộc. Các tiêu chí cụ thể về hạ tầng, môi trường, thu nhập và sinh kế sẽ là cơ sở để xác định lộ trình đầu tư phù hợp cho từng vùng.
Việc xác định rõ tiêu chí vùng dân tộc, miền núi không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là đòn bẩy thể chế quan trọng để thúc đẩy địa phương chủ động hơn trong phát triển.
Nếu như trước đây, nhiều chính sách hỗ trợ mang tính bao cấp, dàn trải, thì trong giai đoạn mới, cần chuyển dần sang cơ chế “trao quyền” cho địa phương – tức là Nhà nước định hướng, giám sát và hỗ trợ ban đầu, còn cộng đồng dân cư và chính quyền cơ sở là chủ thể thực hiện và hưởng lợi.
Các địa phương sẽ căn cứ tiêu chí vùng để xây dựng đề án phát triển riêng, phù hợp điều kiện đặc thù, đồng thời có cơ chế thưởng – phạt rõ ràng: xã thoát khỏi vùng đặc biệt khó khăn sẽ được ghi nhận và được hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững sau “thoát nghèo”.
Một điểm mới đáng chú ý trong giai đoạn tới là tiêu chí về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sẽ được đưa vào hệ thống đánh giá vùng dân tộc thiểu số.
Phát triển kinh tế không thể tách rời văn hóa. Nhiều địa phương miền núi đang có xu hướng đánh mất bản sắc khi chạy theo mô hình du lịch đại trà hoặc đô thị hóa. Vì vậy, tiêu chí vùng cần gắn với yêu cầu bảo tồn tiếng nói, trang phục, lễ hội, tri thức bản địa, mô hình sản xuất truyền thống – coi đây là tài sản vô giá và nguồn lực phát triển đặc thù.
Cụ thể hóa tiêu chí vùng miền núi, dân tộc thiểu số không chỉ là câu chuyện của thống kê hay phân loại, mà là bước đi chiến lược nhằm tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới – nơi mọi chính sách đều hướng đến công bằng, hiệu quả và tính bền vững.
Khi các tiêu chí được xác định rõ ràng, chính sách đầu tư sẽ minh bạch, nguồn lực được phân bổ hợp lý, và mỗi địa phương có thể chủ động vạch ra con đường phát triển riêng, dựa trên thế mạnh của mình.
Cũng giống như mục tiêu của Chương trình 1719, việc cụ thể hóa tiêu chí vùng miền núi, dân tộc thiểu số không chỉ để “xóa nghèo”, mà quan trọng hơn là “xóa khoảng cách” – hướng tới một Việt Nam phát triển đồng đều, nơi mọi người dân, dù ở đồng bằng hay miền núi, đều có cơ hội vươn lên, làm chủ tương lai của mình.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày