Thực hiện Thông báo số 08-TB/BCĐTW ngày 08/8/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương tại Phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo, trả lời các phản ánh của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Bộ Tài chính trả lời như sau:
Về phản ánh theo phạm vi điều chỉnh, Điều 1 Thông tư 27/2025/TT-BTC ngày 22/5/2025 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành sử dụng vốn Nhà nước ngoài vốn đầu tư công liên quan đến Dự án Nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất của Công ty Cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR)
Theo Bộ Tài chính, tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số 27/2025/TT- BTC ngày 22/5/2025 của Bộ Tài chính về quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành sử dụng vốn Nhà nước ngoài vốn đầu tư công (Thông tư số 27/2025/TT- BTC) quy định cụ thể những Dự án sử dụng vốn Nhà nước ngoài vốn đầu tư công, trong đó có dự án sử dụng vốn Nhà nước khác theo quy định pháp luật có liên quan. Do vậy, đề nghị Công ty BSR rà soát quy định của pháp luật khác có liên quan để xác định vốn thực hiện dự án, trên cơ sở đó thực hiện theo quy định.
Về phản ánh thẩm quyền phê duyệt quyết toán Dự án Nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (bao gồm cả phần bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư nếu không được tách thành một dự án riêng và tổ chức thực hiện độc lập).
Bộ Tài chính cho rằng, trường hợp công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư phục vụ Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã được Thủ tướng chính phủ chấp thuận tách thành một Dự án riêng và tổ chức thực hiện độc lập (Tiểu dự án) thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021 của Chính phủ quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công (Nghị định số 99/2021/NĐ-CP).
Về phản ánh theo Thông tư số 27/2025/BTC thì thời hạn quyết toán dự án hoàn thành được áp dụng theo Nghị định số 99/2021/NĐ-CP, tại Điều 47 có quy định về thời gian lập hồ sơ, thẩm tra, phê duyệt quyết toán tối đa là 18 tháng (trong đó thời gian chủ đầu tư lập hồ sơ trình phê duyệt là 9 tháng; thời gian thẩm tra quyết toán là 8 tháng; thời gian phê duyệt quyết toán là 1 tháng). Theo đó thời hạn quyết toán các hợp đồng với nhà thầu thuộc dự án phải ít hơn thời gian lập hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành. Đối với Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, Sông Hậu 1 bao gồm rất nhiều hợp đồng lớn nhỏ được áp dụng cơ chế đặc thù theo Quyết định số 2414/QĐ-TTg ngày 11/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là hợp đồng EPC với phạm vi công việc, khối lượng rất lớn và nhiều giao diện phức tạp, quá trình triển khai còn nhiều vướng mắc nên thời gian quyết toán nêu trên là quá ngắn, khó có thể đáp ứng được yêu cầu.

Phản ánh của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam có nội dung liên quan đến Dự án Nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Ảnh: MH
Bộ Tài chính cho rằng, tại Nghị định số 99/2021/NĐ-CP quy định thời gian thẩm tra dự án nhóm A và quan trọng Quốc gia là 8 tháng, thời gian phê duyệt là 1 tháng; tổng thời gian thẩm tra, phê duyệt là 9 tháng. Nội dung này thống nhất với quy định tại khoản 6 Điều 35 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng: Cơ quan thẩm tra, phê duyệt quyết toán có trách nhiệm thực hiện thẩm tra, phê duyệt quyết toán chậm nhất là 9 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quyết toán theo quy định. Do vậy, đơn vị căn cứ quy định trên để thực hiện.
Về phản ánh hiện nay, tại Thông tư số 27/2025/TT-BTC không có nội dung hướng dẫn xử lý trong trường hợp nhà thầu cố tình, chây ì, không hợp tác, không thực hiện quyết toán hợp đồng theo quy định.
Theo Bộ Tài chính, việc quyết toán A-B là một trong các nội dung tại hợp đồng ký giữa chủ đầu tư và nhà thầu, đây là trách nhiệm giữa chủ đầu tư và nhà thầu (không phải trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước). Theo quy định tại Luật Xây dựng thì Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự (khoản 1 Điều 138), tại điểm m khoản 1 Điều 141 đã quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng một nội dung của hợp đồng, tại Điều 145 quy định về tạm dừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng quy định rõ các bên có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng và trước khi một bên tạm dừng, chấm dứt thực hiện hợp đồng xây dựng theo quy định thì phải thông báo cho bên kia bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do tạm dừng, chấm dứt hợp đồng; trường hợp không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
Tại khoản 8 Điều 146 quy định nguyên tắc và trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng là tôn trọng các thỏa thuận hợp đồng và các cam kết trong quá trình thực hiện hợp đồng, bảo đảm bình đẳng và hợp tác; các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp. Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật.
“Như vậy, khi nhà thầu không thực hiện các nghĩa vụ quy định tại hợp đồng đã ký thì chủ đầu tư căn cứ các quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về dân sự để xử lý (trách nhiệm thuộc chủ đầu tư)”, Bộ Xây dựng phúc đáp.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày