Trong quá trình đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò then chốt, là chìa khóa giúp đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên, thu hẹp khoảng cách phát triển và tạo nền tảng cho đồng bào dân tộc Tây Nguyên giàu mạnh, bền vững.
Để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc Tây Nguyên, theo Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr cho biết: Những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của các địa phương, sự đồng hành của ngành giáo dục, diện mạo giáo dục đồng bào dân tộc Tây Nguyên đã có nhiều đổi thay tích cực.
Hệ thống trường lớp được mở rộng đến tận thôn, buôn; tỷ lệ huy động trẻ đến trường tăng lên đáng kể. Nhiều địa phương đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Mạng lưới các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được củng cố, trở thành “cái nôi” đào tạo nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng giáo dục ở đồng bào dân tộc Tây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ học sinh bỏ học, nhất là ở bậc THCS và THPT, vẫn cao hơn mức trung bình cả nước. Nhiều vùng sâu, vùng xa vẫn thiếu giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy tiếng dân tộc và giáo viên chuyên môn chất lượng cao. Cơ sở vật chất một số trường học còn xuống cấp, thiếu phòng học chức năng, ký túc xá và trang thiết bị dạy học hiện đại.
Giáo dục ở đồng bào dân tộc Tây Nguyên chịu tác động của nhiều yếu tố đặc thù. Địa hình rộng, giao thông khó khăn khiến việc đến trường của học sinh gặp nhiều trở ngại, đặc biệt trong mùa mưa lũ. Nhiều em phải đi bộ hàng chục cây số để học, dẫn đến tình trạng học sinh nghỉ học hoặc học không đều.
Mặt khác, sự khác biệt về ngôn ngữ, tập quán sinh hoạt và nhận thức của một bộ phận phụ huynh cũng ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng học tập. Ở một số vùng, quan niệm “học ít cũng được”, “con gái không cần học cao” vẫn tồn tại, khiến nhiều trẻ em dân tộc thiểu số không được khuyến khích tiếp tục học sau bậc tiểu học.
Ngoài ra, việc thiếu đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số – những người hiểu rõ văn hóa, ngôn ngữ và tâm lý học sinh – cũng là một rào cản lớn. Giáo viên từ nơi khác đến thường gặp khó khăn trong giao tiếp, hòa nhập và duy trì mối liên hệ với cộng đồng.
Nhận thức rõ vai trò chiến lược của giáo dục, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Nổi bật là các chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030, Chương trình 135, cùng nhiều chính sách học bổng, hỗ trợ ăn ở, học phí cho học sinh dân tộc.
Các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được quan tâm đầu tư, giúp hàng chục nghìn học sinh có điều kiện học tập, rèn luyện. Ở nhiều nơi, mô hình “cắm bản dạy học”, “lớp ghép liên cấp”, “thầy cô vùng cao” đã trở thành biểu tượng đẹp về tinh thần cống hiến và sự tận tụy của ngành giáo dục.
Tuy vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục một cách thực chất, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Đổi mới chương trình, nội dung giảng dạy phù hợp đặc thù vùng dân tộc: Việc tăng cường dạy tiếng Việt song song với bảo tồn ngôn ngữ dân tộc là rất quan trọng. Học sinh cần được học tiếng mẹ đẻ ở giai đoạn đầu để củng cố tư duy, sau đó chuyển dần sang tiếng Việt để hòa nhập chương trình chung.
Phát triển đội ngũ giáo viên tại chỗ: Cần có cơ chế ưu tiên tuyển sinh, đào tạo sư phạm cho con em người dân tộc thiểu số, sau đó quay về phục vụ quê hương. Bên cạnh đó, cần tăng chế độ đãi ngộ, hỗ trợ nhà ở, phụ cấp vùng khó để thu hút giáo viên giỏi về công tác lâu dài.
Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục: Mô hình “lớp học kết nối”, “thư viện số”, “học trực tuyến qua vệ tinh” cần được mở rộng, giúp học sinh vùng sâu được tiếp cận kiến thức như ở thành phố. Song song đó, đào tạo kỹ năng số cho giáo viên và học sinh là yếu tố không thể thiếu.
Tăng cường phối hợp giữa nhà trường – gia đình – cộng đồng: Các tổ chức đoàn thể, già làng, người có uy tín cần được huy động để vận động học sinh đến trường, chống bỏ học. Nhiều mô hình “cha mẹ cùng học với con”, “buôn không có học sinh bỏ học” đã chứng minh hiệu quả tích cực.
Gắn giáo dục với đào tạo nghề và việc làm: Đồng bào dân tộc Tây Nguyên có lợi thế về nông nghiệp, du lịch, công nghiệp chế biến… Vì vậy, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chủ động mở ngành phù hợp, đào tạo lao động kỹ thuật, giúp học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm ngay tại địa phương.
Nâng cao chất lượng giáo dục đồng bào dân tộc Tây Nguyên không chỉ là câu chuyện của ngành Giáo dục, mà còn là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của cả hệ thống. Bởi lẽ, giáo dục chính là con đường căn bản nhất để đồng bào các dân tộc vươn lên, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ thực tiễn cho thấy, nơi nào chính quyền địa phương quan tâm, cộng đồng cùng vào cuộc, nơi đó tỷ lệ học sinh ra lớp cao hơn, phong trào khuyến học, khuyến tài phát triển mạnh mẽ hơn. Do đó, việc xây dựng “xã hội học tập” đồng bào dân tộc Tây Nguyên cần được thúc đẩy sâu rộng, đưa tinh thần học tập trở thành nét văn hóa của mỗi buôn làng.
Hơn nửa thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.” Hôm nay, lời dạy ấy vẫn vẹn nguyên giá trị đối với đồng bào dân tộc Tây Nguyên – vùng đất đang vươn mình đổi mới.
Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc Tây Nguyên không chỉ là mục tiêu trước mắt, mà còn là chiến lược lâu dài, bền vững. Khi mỗi đứa trẻ vùng cao được đến trường, được học tập trong môi trường tốt, được nuôi dưỡng ước mơ và phát huy tiềm năng, đó cũng chính là lúc đồng bào dân tộc Tây Nguyên đang gieo những “hạt giống vàng” cho tương lai của chính mình.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày