Theo đó, luật mới đã bổ sung hai điều khoản quan trọng mà luật cũ chưa quy định cụ thể, đó là Điều 198b và Điều 198c.
Điều 198b quy định, tài sản của bên phải thi hành án đang được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ bị kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hợp đồng bảo đảm đã được ký kết và phát sinh hiệu lực sau thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
- Thi hành bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ;
- Có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ.
Điều 198c cho phép hoàn trả vật chứng là tài sản bảo đảm trong vụ án hình sự.
Cụ thể, sau khi hoàn tất thủ tục xác định chứng cứ và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ nếu hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Luật sư Vũ Văn Vinh (Công ty Luật Thiên Ngân, Hà Nội) cho biết, khoản 8 Điều 320, Bộ luật Dân sự quy định khi thế chấp tài sản không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ một số trường hợp.
Điều 90, Luật Thi hành án dân sự quy định trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
Luật sư Vinh nhận định, quy định tại Điều 198b giúp đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là trong các trường hợp tài sản đang trong quá trình thi hành án.
Còn quy định tại Điều 198c tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tín dụng trong việc thu hồi tài sản bảo đảm khi không còn cần thiết cho công tác điều tra, xét xử.
Những thay đổi này đã khắc phục những bất cập của luật cũ, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho các tổ chức tín dụng và các bên liên quan.
Đồng thời, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng và khách hàng và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án và xử lý các vụ án hình sự.
Luật Các tổ chức tín dụng quy đinh, nợ xấu của ngân hàng bao gồm khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán.
Việc bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải công khai, minh bạch, theo quy định của pháp luật. Giá bán khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ xấu.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày