Hiện nay, theo quy định của Luật Luật sư 2006, sửa đổi 2012, 2015, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền quyết định cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư.
Điều 9, 10, 11 Nghị định 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Tư pháp quy định cụ thể:

Về cấp chứng chỉ hành nghề luật sư
Việc cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được quy định tại khoản 3, Điều 17 của Luật Luật sư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.
Trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề luật sư thực hiện theo quy định tại mục I Phụ lục III, ban hành kèm theo Nghị định này.
Việc chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan tăng cường thẩm tra tiêu chuẩn tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt của người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật được quy định tại khoản 4, Điều 2a của Luật Luật sư thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.
Về thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư
Việc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư được quy định tại khoản 2, Điều 18 của Luật Luật sư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.
Việc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư được quy định tại khoản 3, Điều 85 của Luật Luật sư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nơi luật sư là thành viên đoàn luật sư.
Trình tự, thủ tục thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư thực hiện theo quy định tại mục II Phụ lục III, ban hành kèm theo Nghị định này.
Về cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư
Việc cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư được quy định tại Điều 19 của Luật Luật sư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.
Trình tự, thủ tục cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư thực hiện theo quy định tại mục III Phụ lục III, ban hành kèm theo Nghị định này.
Nghị định 121/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
Báo Thanh Tra - Tin tức cập nhật trong ngày